Showing posts with label thegioi. Show all posts
Showing posts with label thegioi. Show all posts

Tuesday, February 12, 2008

Từ gián điệp kinh tế đến văn hoá ăn cướp

Saigon-Vietnam's Blog

Sống ở những quốc gia kém phát triển ai cũng quá quen thuộc với tình trạng hàng giả, hàng nhái. Dân Sài Gòn thường hay nói "made in Hongkong bên hong Chợ Lớn" cũng có cái nguyên nhân xâu sa của nó. Tại sao lại không là "bên hong Bà Chiểu" hay "bên hong Gia Định" v.v...? Nguyên nhân khách quan là vì Chợ Lớn vốn từ xưa nay vẫn là trung tâm tiểu thủ công nghiệp và thương mại của cả thành phố Sài Gòn. Nguyên nhân chủ quan là do chính những đầu óc năng động cũng như bàn tay khéo léo của cộng động người Hoa sinh sống tại Chợ Lớn.

Hầu như người Hoa nào, cho dù sống bất kỳ nơi nào trên thế giới đều muốn duy trì cái truyền thống "phi thương bất phú" của tổ tiên. Vì vậy, đối với những người lập nghiệp từ hai bàn tay trắng thì buôn bán hầu như là cách sinh nhai duy nhất.

Lúc nhỏ tôi ở trọ nhà một gia đình người Hoa ở Cần Thơ để đi học, vào những năm cuối của thập niên 70, những năm lũ lụt và thiếu đói. May mắn có người con trai của ông chủ lớn hơn tôi 5 tuổi nhưng chơi chung rất thân và nhân đó tôi mới biết thêm một số bí mật làm ăn của cộng đồng người Hoa ở Phụng Hiệp (Ngã Bảy). Anh rất chất phát và thân thiện, thậm chí kể cho tôi nghe những bí mật nhà nghề mà người khác có bỏ tiền ra cũng chưa chắc gì mua được. Đó là những bí quyết làm rượu Tây từ nước sông Ngã Bảy, làm nước tương 0 độ đạm từ thứ phẩm của nhà máy bột ngọt, làm trắng đường tinh, và sau cùng là bí quyết rang cà phê v.v... Nói chung, tôi không quan tâm mấy đến những chi tiết kỷ thuật bỡi vì chưa chắc nó chính xác, nhưng cái mà tôi phải suy nghĩ nhiều nhất là bí quyết học nghề, hay đúng hơn là "ăn cắp nghề" của họ. Thường thì những chuyện như thế xảy ra trong vòng khép kín của cộng đồng người Hoa nên người ngoài không hề biết.

Hầu hết tất cả các bí kiếp làm đồ giả hay sản xuất trên đều do chính anh ta bỏ thời gian ra đi "học" rồi mang về làm cho gia đình. Các bước tiến hành đều giống nhau : tìm cách sống chung, làm chung với người sản xuất rồi học nghề trực tiếp, sau đó bỏ chủ về quê làm cho gia đình. Có khi là giả vờ làm công, có khi là chính thức bỏ tiền ra học nghề. Lần cuối cùng tôi chứng kiến anh ta đi Ban Mê Thuộc nói là bỏ một số tiền ra học nghề rang cà phê. Khoảng 1 năm sau anh trở về quê và mở lò rang tại nhà.

Dĩ nhiên là tôi đã không phụ lòng của người bạn này, không hề dùng những thông tin đó để tư lợi hay làm hại ai. Mãi cho đến hôm nay, khi tìm hiểu về tâm tính của người Trung Hoa cũng như cung cách làm ăn của họ, nhất là dưới sự quản lý của nhà cầm quyền TQ, tôi mới nghiệm ra một điều là trong thâm tâm, người Trung Hoa nói chung, và dân Trung Hoa lục địa nói riêng chưa có ý thức tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của người khác, thậm chí có thể vì lợi nhuận mà xem thường sự an toàn cho người tiêu dùng. Nghiêm trọng hơn cả là ý thức của giới hữu trách Trung Quốc về vấn đề này. Họ dường như ngấm ngầm, thậm chí có trường hợp công khai ủng hộ cho những hoạt động phạm pháp này. Sự kém hiểu biết của một nhóm người nhỏ thì còn chấp nhận được, nhưng của cả một chính phủ hay của một nền kinh tế thì quả là nghiêm trọng.

Học nghề để tự làm ra sản phẩm là chuyện bình thường. Thậm chí reverse engineering là việc làm hàng ngày của tất cả các nhà sản xuất trên thế giới. Tuy nhiên mục đích của nó chỉ là để nghiên cứu học hỏi từ sản phẩm của đối phương rồi tìm cách cải thiện sản phẩm của mình chớ không phải sao chép. Vào thời kỳ mới phát triển, Nhật Bản phạm phải sai lầm này vào những năm 60-70, nhất là ở khâu thiết kế nên từng bị mang tiếng là "ăn cắp" mẫu mã và bị xem thường ở thị trường Âu Mỹ. Cũng may là người Nhật đã sớm nhận ra điều này và khắc phục nhanh chóng. Người Đại Hàn theo gương người Nhật nên nền công nghiệp của họ phát triển rất chắc chắn. Ngày nay, hàng hoá của 2 quốc gia này đã có khả năng cạnh tranh gần như tuyệt đối ở ngay cả những thị trường khó tính nhất trên thế giới.

Nói như thế không có nghĩa là các quốc gia này không có tình báo kinh tế. Vấn đề là ở qui mô nào và phương thức ra sao cũng như phạm vi ứng dụng những thông tin đó. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã trở thành cái nơi xuất xứ của một lực lượng gián điệp kinh tế lớn nhất thế giới. Đối tượng của họ là các nước phát triển, đứng đầu là Hoa Kỳ.

Các công ty lớn của Hoa Kỳ cho biết, thông qua một cuộc thăm dò ý kiến của FBI và bộ Thương Mại Hoa Kỳ, Trung Quốc chính là mối đe doạ rò rĩ thông tin kỷ thuật lớn nhất (chiếm hơn 20%) so với tất cả các khu vực khác trên thế giới. Năm 1996, tổng thống Clinton ban hành những điều luật bảo vệ tài sản trí tuệ mới nhằm đối phó với nạn ăn cắp thông tin kinh tế và kỷ thuật này. Thế nhưng phải mất 10 năm sau Hoa Kỳ mới có thể phá án thành công một vài trường hợp, trong đó có những vụ liên quan đến Trung Quốc.

Đó là những vụ xử trên đất Hoa kỳ, còn những vụ thưa kiện trên đất Trung Quốc về vi phạm quyền sở hữu tài sản trí tuệ thì còn bi quan hơn nữa. Người ta nói là Trung Quốc có thể kết án và hành huyết một người trong vòng vài tháng, nhưng những vụ tranh chấp dân sự về tài sản trí tuệ thì có thể kéo dài vô hạn định, chủ yếu là làm nản lòng bên nguyên đơn.

Nhiều nhà sản xuất trên thế giới có cảm giác như nạn ăn cắp tài sản trí tuệ đã trở thành một thứ văn hoá được bảo trợ bỡi chính nhà cầm quyền Bắc Kinh, hay ít ra là chính những cán bộ cao cấp trong chính quyền vì lợi ích cá nhân. Chính phủ TQ đã đứng sau rất nhiều hoạt động gián điệp này, nhất là Bộ An Ninh, Viện Nghiên Cứu Không Gian và Quốc Phòng. Càng ngày họ càng bạo dạng và lộ liễu đến mức lố bịch và vô liêm sĩ. Điều đó đã gây một ấn tượng rất xấu về hình ảnh giới trí thức TQ trên trường quốc tế.

Trong một cuộc hội thảo gần đây, tình cờ tôi có nghe một thuyết trình viên kể lại chuyện anh ta chứng kiến việc làm rất là khó coi của phái đòan TQ tại một hội nghị khoa học ở Đức. Trong hội nghị, người đại diện TQ phát biểu không đâu vào đâu với những thông tin cũ mèm hàng 10 năm trước. Khi đến lược những quốc gia khác, người ta thấy một thành viên của nhóm TQ tiến lên phía hàng ghế đầu và chụp lấy chụp để không sót một slide nào trên màn hình. Ánh sáng từ Flash của máy ảnh làm cho thuyết trình viên khó chịu đến nỗi phải yêu cầu thành viên TQ này ngưng chụp ảnh.
Một lần khác có sự hiện diện của phái đoàn Nhật Bản với những mẫu mã và tài liệu rất hấp dẫn do họ mang tới giới thiệu. Có lẽ vì tính nhạy cảm của đề tài nên phái đoàn Nhật Bản không cung cấp tài liệu chi tiết cho tất cả mọi người. Thế là lợi dụng lúc mọi người ăn trưa, các thành viên của nhóm TQ lập tức bao vây khu vực dành do phái đòan Nhật Bản, người có máy ảnh thì chụp, người có bút thì viết lia lịa. Cũng may có một nhân viên người Nhật nhìn thấy và gọi bảo vệ đến tịch thu máy ảnh, còn những người bạn hiếu kỳ TQ kia thì phải bỏ của chạy lấy người.

Nếu ai quan tâm đến kỷ nghệ ô tô của TQ chắc không lạ gì đến những vụ thưa kiện của hầu hết tất cả các nhà sản xuất ô tô trên thế giới cáo buộc TQ ăn cắp mẫu mã và thậm chí những thông số kỷ thuật. Nếu một công ty ô tô ngoại quốc có thể phải bỏ ra từ 500 triệu đến 2 tỉ USD để thiết kế một model xe mới thì TQ có khi chỉ cần vài triệu hay nhiều lắm là vài chục triệu để mua lại bản vẽ và chĩnh sửa đôi chút. Dĩ nhiên người ta chưa bàn đến chất lượng bỡi vì chất lượng xe TQ thì gần như chắc chắn là dưới trung bình rất xa. Có người viết trên blog rằng nếu cái vỏ bên ngoài còn chưa có khả năng nghĩ ra thì làm sao bảo đảm được chất lượng của dàn máy bên trong.

Hãng GM hợp tác với Daewoo để mở một xưởng lắp ráp ô tô ở Nam Hàn. Chi nhánh này bỏ vốn hùn vào hãng Cherry của TQ. Thế là không bao lâu sau, hãng Cherry cho ra lò mẫu xe QQ giống gần như đúc với mẫu xe SPARK mà GM-Daewoo định sẽ tung vào thị trường TQ. Chỉ có điều là Cherry hoàn thành xe QQ trước SPARK đến mấy tháng. Vụ kiện này cuối cùng được phía TQ yêu cầu thương lượng ngoài toà cho nên không ai biết họ phải đền cho GM bao nhiêu cả. Cho đến nay tất cả những vụ kiện khác của Fiat, Audi, Mercedes, Toyota, Honda và Volkswagen, thậm chí BMW và Rolls Royce ... đều không đi đến đâu hoặc là bị xử thua trên đất TQ.

Những vụ chuyển giao thông tin kỷ thuật trái phép được ngăn chặn trước khi ra khỏi biên giới Hoa Kỳ cho thấy cộng đồng người Mỹ gốc Hoa đóng vai trò rất lớn trong những phi vụ này. Nhiều người làm việc cho cả hai phía để thu lợi trong suốt hàng chục năm. Đối với chính phủ Hoa Kỳ, đây là một vấn đề hết sức tế nhị và nan giải vì nó sẽ đụng chạm đến luật chống phân biệt đối xử. Người ta cho rằng hơn 3000 công ty của TQ có mặt tại Mỹ chủ yếu là chỉ nhằm mục đích thu thập thông tin tình báo kinh tế.

Katrina Leung sau 18 năm làm điềm chỉ viên cho FBI, cuối cùng trở thành nhân viên cao cấp của Bộ An Ninh TQ. Thật là trớ trêu vì dường như chính FBI đã cố tình đào tạo Katrina thành nhân viên phản gián, chi trả cho bà đến 1.7 triệu đô , để rồi cuối cùng bà ta làm hại cho Hoa Kỳ nhiều hơn là cho phía TQ. Vụ án này có lẽ đụng chạm đến nhiều lĩnh vực tế nhị nên cuối cùng chính phủ Hoa Kỳ chỉ có thể buộc được tội nói dối và gian lận thuế mà thôi.

Một trường hợp khác, 2 người đàn ông gốc Hoa bị bắt ngay tại phi trường với đầy đủ bản vẻ có đóng dấu "mật" của hãng điện tử Sun Microsystems, Inc. và Transmeta Corporation. Một trong hai người này đã lấy những tài liệu đó từ chỗ làm cũ của họ và mang sang TQ để mở hãng điện tử riêng.

Nhiều thông tin kỷ thuật được mua bỡi những công ty sản xuất hàng gia dụng nhưng thực chất sau đó được chuyển giao cho bộ quốc phòng hay cơ quan nghiên cứu không gian TQ để sản xuất vũ khí cao cấp hay thiết bị không gian.

Đó là chưa kể đến ngành kỷ nghệ đồ gia dụng với vô số món hàng được sản xuất gần như rặp khuôn hàng hoá của Hoa Kỳ hay Nhật mà không phải đối phó với bất kỳ một trở ngaị pháp lý nào. Ngành dược phẩm TQ dưới sự bảo vệ của chính phủ thậm chí đã cho sản xuất thuốc có cùng công thức với Viagra mặc cho bao nhiêu phản đối từ Pfizer.

Thêm vào đó là nạn sao chép đỉa và software lậu tràn lan như đã xảy ra ở VN, làm cho nền kinh tế Hoa Kỳ phải chịu thiệt hại trên mọi lĩnh vực. Bộ Thương Mại Hoa kỳ đã có lần nói thẳng vào hiện trạng này, thậm chí chính phủ Mỹ cũng đã từng chính thức đệ đơn thưa TQ tại WTO . Tuy chính phủ Trung Quốc đã có một số động thái để giải quyết tình trạng vi phạm bản quyền , chủ yếu là tịch thu sản phẩm vi phạm bản quyền hoặc phạt rất ít tiền mà không kèm theo án tù nào cả. Những trò "dơ cao đánh khẻ" như thế có lẽ còn rất lâu mới có thể có tác động đáng kể đến ý thức của giới kinh doanh TQ nói riêng và người dân TQ nói chung. Việc tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ phải xuất phát từ ý thức của từng người dân. Chính nhà nước phải làm gương và phải đưa nó vào chương trình giảng dạy đạo đức cho học sinh từ khi còn bé.

Ở các trường đại học ở Mỹ khi ghi danh, tất cả các sinh viên phải cam đoan không gian lận và phải luôn tuân theo những quy định về tôn trọng tác quyền khi trích dẫn hay sử dụng sản phẩm trí tuệ của người khác. Vi phạm những điều đó là một sự sĩ nhục cho người trí thức bỡi vì nó không khác gì với tội ăn cắp. Tệ hơn nữa nếu có ai đó bê nguyên xi công trình của người khác rồi thay tên mình vào bất chấp sự phản đối của tác giả thì đó không còn là ăn cắp nữa, mà là ăn cướp. Nạn ăn cướp tài sản trí tuệ này đã góp phần không nhỏ vào sự phồn vinh của nền kinh tế TQ hiện nay. Mong rằng Việt Nam sẽ không theo đuôi TQ trong lĩnh vực này mà hãy học lấy bài học từ Nhật Bản và Hàn Quốc.

Có thể người TQ chưa nhận ra ngay nhưng những thế hệ tiếp theo chắc chắn sẽ phải trả giá cho sai lầm đó. "Dân trí" của TQ hiện nay có thể chưa cao nhưng nếu "Đảng trí" cũng không khá hơn thì hậu quả sẽ khôn lường. Có người mĩa mai Hồ Cẫm Đào khi viết trên blog rằng ông Hồ là vị lãnh tụ từng tốt nghiệp ngành ăn cắp bản quyền. Có lẽ nói thế là không công bình đối với những người ăn cắp vì không những ăn cắp mà cụ Hồ còn lãnh đạo cả hơn một tỉ dân đi ăn cướp trắng trợn những gì mà ổng muốn, bất chấp đạo lí và luật pháp.

12-02-2008 11:11 PM

Tuesday, April 25, 2006

CNCS, kẻ nội thù muôn thuở!

Saigon-Vietnam's Blog

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Việt Minh một lần nữa phát động một cuộc nổi dậy ở Hà Nội. Ủy Ban Ám Sát Xung Phong tràn ra đường phố khắp xứ Bắc Kỳ tìm giết những người Pháp và những ai có liên hệ với họ, bỏ lại sau lưng những xác người không nguyên vẹn. Quân đội Pháp phản công và dần dần ổn định được tình hình. Thế là cuộc chiến tranh Đông Dương đau thương được bắt đầu từ đó.

Vài tháng sau, ngày 22 tháng 3 năm 1947, François Billoux (phrăng-xoa bi-du), bộ trưởng quốc phòng thuộc đảng Cộng Sản Pháp (PCF), dõng dạc tuyên bố từ chối mọi liên đới cá nhân với quân Viễn Chinh Pháp Quốc ở Viễn Đông (CEFEO, đặt tại Đông Dương), trong khi Thorez (một đảng viên cộng sản khác) tuyên bố rút lui khỏi Quốc Hội Pháp. Không bao lâu sau đó, ngày 5 tháng 5 năm 1947, toàn bộ những bộ trưởng khác theo phe cộng sản đều bị loại ra khỏi chính phủ. Kể từ đây, cuộc chiến tranh Đông Dương được người cộng sản Pháp gọi là "cuộc chiến tranh bẫn thĩu" để phản ảnh những mâu thuẫn gay gắt giữa phe cộng sản và chính phủ.

Những lập luận mà những người marxiste dùng để tuyên truyền trước đây, giờ được đem ra dùng lại, nhắm vào những bức xúc của quần chúng Pháp về những vấn đề dân quyền, nhân quyền, chủ nghĩa bài thuộc địa, bài đế quốc v.v .. .

Đảng viên CS Pháp (PCF) tăng cường hoạt động phá hoại những nhà máy sản xuất vũ khí cũng như hoạt động ủng hộ cho phong trào Việt Minh. Phong trào đình công bùng nổ khắp nước Pháp nhằm lật đổ nền Đệ Tứ Cộng Hòa và giành lấy thắng lợi cho cuộc "Cách Mạng Vô Sản". Có đến 2.900.000 người đình công trong năm 1947. Những cuộc bạo động, đụng độ, đôi khi đãm máu, liên tục diễn ra, chủ yếu là ở thành phố cảng Marseille giữa phe cộng sản và binh lính khi họ đang chuẩn bị sang Đông Dương chiến đấu. Việc đưa quân sang Đông Dương trong thời điểm này thường được thực hiện bằng những chuyến tàu đêm để tránh sự chú ý hay phải có sự hỗ trợ của lực lượng an ninh tại bến cảng. Những cuộc bạo động như thế đạt cực điểm từ ngày 2 đến 3 tây tháng 12 năm 1947: một đặc công cộng sản thuộc chi bộ Arras đã đặt chất nổ phá hoại đoạn đường sắt từ Paris đi Lille, làm xe lửa bị trật đường rầy gây thiệt mạng cho 16 người và làm bị thương 30 người.

Con tàu mang tên Pasteur có nhiệm vụ chở lính sang Đông Dương phải nằm bất động trong nhiều ngày vì cuộc đình công của Tổng Liên Đoàn Lao Động ngành hàng hải. Tình hình trên tàu càng căng thẳng hơn đến độ thủy thủ đoàn cũng làm ngơ để cho bọn vận chuyển lậu vũ khí và thuốc men cho Việt Minh tung hoành, trong khi đó một sĩ quan hải quân tên Henri Martin bị tòa án xử 5 năm cấm cố vì không chịu tham chiến theo lệnh cấp trên. Không cần phải nói, Đảng CSP ca ngợi Henri Martin như một anh hùng. Còn ở Việt Nam thì cái tên Henri Martin và Raymonde Dien (bị xử 1 năm tù vì đã nằm ngang đường rầy cản trở việc vận chuyển vũ khí sang Việt Nam) đã từ lâu được đưa vào văn học cách mạng.

[IMG]http://www.cpv.org.vn/img/BT2480458246s.jpg[/IMG]
(Henri Martin và Raymonde Dien, Việt Nam, tháng 8-2004)

Kho vũ khí cũng bị phá hoại làm cho hư hỏng, gây thương vong cho những người sử dụng, như thượng sĩ Parsiani thuộc tiểu đoàn xung kích. Ở Grenoble, một cổ pháo bị vứt ra hỏi xe lửa.

Những người cộng sản Pháp hồ hỡi theo chân Hồ Chí Minh để chống lại chính những đồng hương của họ trong đội quân viễn chinh Pháp!

Trong lùc này thì ở quốc hội, những đại biểu cộng sản yêu cầu ngân hàng máu không được sử dụng cho thương binh Pháp tại Đông Dương. Thậm chí vào dịp Giáng Sinh, khi một đại biểu đề nghị quốc hội gữi quà cho quân nhân trên chiến trường Viễn Đông thì một đại biểu đảng CSP phát biểu "món quà duy nhất mà họ đáng được hưởng là 12 viên đạn vào người!"

Bên trong quân đội Pháp thì chiến dịch tuyên truyền còn dữ dội hơn nữa, một số sĩ quan vốn xuất thân từ lực lượng vũ trang do đảng CSP tổ chức trước đây (Francs-tireurs et partisans - FTP) thường xuyên nhận sự chỉ đạo thật cụ thể của đảng CSP về việc giúp đỡ Việt Minh, tổ chức vượt ngục cho tù VM, thậm chí đào ngũ, tuy nhiên họ không gây tổn thất gì đáng kể đến lực lượng viễn chinh.

Người trong cuộc đều biết rằng những người lãnh đạo đảng CSP đi lại công khai trong vùng Việt Minh kiểm soát: cuộc chiến tranh bắt đầu có nhiều vị đắng, sự thật phủ phàng nhanh chóng được phơi bày, kể từ nay, kẻ thù của nước Pháp không còn là Việt Minh nữa mà chính là chủ nghĩa Cộng Sản.

Nước Pháp phải đối phó với mối đe dọa thường xuyên từ những người cộng sản Pháp hoạt động ngay tại xứ thuộc địa. Một trong những nhóm thân Việt Nam đó là "Nhóm Văn Hóa Marxiste", rất thân thiết với Việt Minh, hoạt động từ 1945 tại Sài Gòn ngay tại trung tâm của đất Nam Kỳ mãi cho đến năm 1950. Như vậy, dù ở đâu đi nữa nước Pháp cũng phải đối mặt với nội thù...

Phong trào CS ở Việt Nam phát triển nhờ vào sự giúp đỡ và cố vấn của đảng CS Trung Quốc. Chẳng bao lâu, người ta thấy xuất hiện những cai tù người Pháp trong những "trại tù tử thần" của Việt Minh. Trung sĩ Sobanski ở trại 113kể lại từng bị tra tấn bỡi "cán bộ Việt Minh" Boudarel, một tay cộng sản Pháp khét tiếng. Trong khi đó ở Pháp, thân nhân tù binh thì được thông báo rằng "muốn có thông tin về con em của quý vị, hãy gia nhập đảng CSP và ký vào thĩnh nguyện thư chống chiến tranh!"

http://www.conscience-politique.org/images/vietminh2.jpg

Những thương binh thường được đưa về Pháp qua cảng Marseille vào lúc nửa đêm; và được chuyển bí mất về vùng Paris qua nhà ga cửa Đông. Tuy nhiên, sự trở về âm thầm này cũng không tránh được sự phản đối của công nhân đường sắt thuộc Tổng Liên Đoàn Lao Động. Thương binh bị đám người biểu tình lăng nhục, xô đẩy trên băng ca. Nhân viên nhà ga phải vất vả lắm mới chuyển được thương binh từ xe lửa sang xe cứu thương trong tiếng gào thét và phỉ nhổ của những người biểu tình trong rừng cờ đỏ...

Chiếc gọng kềm quân sự của Viet Minh ngày càng siết chặt, ngày 7 tháng 5 năm 1954, Điện Biên Phủ thất thủ, nước Pháp bại trận. Hiệp định Genève đánh dấu sự chấm dứt của cuộc chiến tranh đối với người Pháp, nhưng đối với người Việt Nam thì chỉ là cuộc đình chiến tạm thời, chẳng bao lâu sau, cuộc chiến tranh giữa những người Việt Nam bắt đầu. Sau đó, hàng loạt tù nhân chiến tranh được hồi hương từ cõi chết (trong số 90 ngàn tù nhân chỉ có 20 ngàn về đến Pháp), hầu hết chỉ còn da bọc xương, nhân chứng thầm lặng cho cuộc chiến tranh hãi hùng.

Những chiến binh Pháp di tản từ Bắc Kỳ kể lại những điều mắt thấy tai nghe về cuộc chiến khủng khiếp này: những họ đạo bị giải tán, nạn thanh trừng, hành huyết những người thân Pháp, nhận chìm tàu di cư của người theo Thiên Chúa Giáo ... Những nỗi tuyệt vọng ít khi được dư luận Pháp biết đến vào thời bấy giờ.

Ngày 14 tháng 9 năm 1956, những người lính viễn chinh cuối cùng rời Sài Gòn bỏ lại sau lưng dân tộc Việt Nam với số phận đen tối của mình. Một vị xã trưởng đáng thương thểu não tâm sự với một sĩ quan Pháp rằng "người Pháp thì còn có tù mà ở, chớ dân Việt thì không ...", vừa nói vừa dùng cạnh bàn tay đưa lên cổ của mình.

Cuộc chiến tranh thối rữa từ bên trong do những thành phần chống đối và phản bội theo đảng CSP này đương nhiên đã làm cho quân đội Pháp càng xa lánh hơn những người cộng sản. Và cũng nhờ họ mà quân đội Pháp mới biết căm thù chủ nghĩa cộng sản ...

Thiên sử đau thương và nổi bật nhất về những kẻ nội thù đã chấm dứt như thế đối với người Pháp. Nhưng nó chưa và sẽ không dễ gì chia tay với dân tộc Việt Nam.

Sau khi chiến thắng những thế lực thân Pháp và thân Mỹ để giành lấy giang sơn về một cõi, Đảng CSVN đã trực tiếp đối đầu và trở thành kẻ thù duy nhất của dân tộc ta. Đảng đã trưởng thành bằng bầu sữa của nhân dân và nay càng thêm giàu có nhờ vào mồ hôi xương máu của đồng bào mình. Từng đại hội Đảng là một cuộc hồi sinh cấp cứu cho bọn tham quan vô lại. Biết đến bao giờ dân ta mới có quyền tự quyết?

Chỉ khi dân ta có đủ can đảm và đồng loạt nói lên ý nguyện của mình thì họa may kẻ nội thù truyền kiếp này mới bị diệt vong.

-------------------------------------------------------------------
biên tập theo "Cycle l'ennemi de l'intérieur" (Những kẻ nội thù) - Chương 1 "Cuộc chiến Tranh bẫn thĩu" (La Sale Guerre)
Alexis de T. và Jean-Baptiste S.

http://www.conscience-politique.org/histoire_politique/lasaleguerre.htm

http://quehuongmedia.com/modules.php?name=News&new_topic=9&file=article&sid=138
http://dangcongsan.vn/details_e.asp?topic=44&subtopic=141&id=BT2480458246
http://www.humanite.presse.fr/journal/1990-02-27/1990-02-27-795780

25-04-2006, 11:52 PM

Thursday, April 20, 2006

Số phận dân xuất khẩu lao động Bắc Triều Tiên ở Nga

Saigon-Vietnam's Blog

Xuất khẩu lao động từ những nước nghèo đã trở thành chuyện bình thường. Khi mới bắt đầu vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, phong trào lao động hợp tác ở VN đã giúp cải thiện không ít đời sống cán bộ đảng viên cao cấp từ trung ương đến địa phương. Nhà nước giao chỉ tiêu xuống từng tỉnh thành, và tự mỗi địa phương tìm cách chia chát tùy ý. Với quota cở 200 người cho mỗi tỉnh phía Nam thì chỉ có hàng tỉnh ủy, thành ủy mới có cơ hội mà thôi. Chẳng bao lâu sau, hàng tiêu dùng từ Đông Âu, xe gắn máy Babetta v.v... đua nhau chạy vào thị trường VN chứng tỏ hiệu quả kinh tế của việc xuất khẩu lao động thời đó.

Ngày nay, thị trường việc làm ở những nước hậu CS không còn nữa, nhưng bù lại nhiều thị trường khác đang mở ra cho người lao động VN. Tuy còn một số việc chưa ổn như xuất khẩu ô sin, cô dâu, hay hiện tượng ăn chận lương công nhân v.v..., nhìn chung công nghiệp xuất khẩu lao động của VN đã phần nào mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực, nhất là đối với những vùng nông thôn.

Ở VN ngày nay, chính nhờ tính phổ cập của việc xuất khẩu lao động nên ngày càng có nhiều người có cơ hội tham gia chớ không chỉ riêng đảng viên và gia đình cán bộ. Thật tình mà nói ở cái thời đảng viên làm kinh tế này thì chuyện xuất khẩu lao động là chuyện chỉ dành cho giai cấp vô sản, chớ đảng viên thì có khối cơ hội làm giàu ngay tại VN mà khỏi phải lao động gì cả.

Được như thế, kể ra dân mình phải biết ơn Đảng và nhà nước mới phải, vì người lao động VN còn sướng gấp nhiều lần dân xuất khẩu lao động (XKLĐ) Bắc Triều Tiên (BTT). Tình hình XKLĐ ở BTT hiện nay vẫn còn giống VN trong những năm 80, thậm chí còn tệ hơn thế nữa.

Để phục vụ cho tham vọng hạt nhân của nhà họ Kim, dân Bắc Triều Tiên phải mang những món nợ khổng lồ từ Liên Xô cũ. Và để trả nợ, chính quyền Bắc Triều Tiên từ đời Kim Il Sung đã gửi dân lao động sang làm việc khổ sai ở Liên Xô, và ngày nay Kim Jong Il lại tiếp tục con đường này để trả dần món nợ còn lại mà Putin đã dứt khoát không bao giờ chịu xóa.

Một người đàn ông gầy còm sau nhiều năm làm việc vất vả đã nói với phóng viên báo Le Monde Diplomatique: "Tôi không sợ khi kể về mình, vì đây là sự thật." Ông ta trông giống như người địa phương của vùng rừng rậm mênh mông phía bắc nước Nga. Nhưng thật ra ông ta là người Bắc Triều Tiên, xuất thân từ Nampo. Từng làm tài xế cho nhà nước BTT được 10 năm thì ngã bệnh. Vì không còn cách nào kiếm ra tiền nên ông đã đăng ký đi làm công nhân khai thác gỗ ở Nga. Đến Nga và năm 1995 và được đưa đến một trại lao động ở Tynda.

Dân khai thác gỗ Bắc TT đã từng làm việc trong các khu rừng ven sông Taiga về phía Đông nước Nga từ mấy mươi năm qua. Hiện có một cộng đồng rất lớn người Bắc TT tại vùng Amur ở Khabarovsk. Vùng cực Đông chỉ chiếm khoảng 5% dân số nhưng lại có diện tích bằng 30% diện tích liên bang, vì vậy rất khó tìm nhân công trong khu vực này. Do vị trí địa lý và lịch sử mà vùng này có quan hệ khá mật thiết với Bắc TT. Mối quan hệ này hiện vẫn còn tồn tại sau khi Liên Xô sụp đỗ. Sau nhiều nhiều cuộc gặp gỡ giữa 2 chính phủ, tuyến đường sắt Vladivostok và Bình Nhưỡng được mở lại, ngoài ra còn có 1 chuyến bay mỗi tuần giữa 2 thành phố này.

Theo nhà sử học Larisa Zabrovskaya ở Vladivostock, thì có 3 làn sóng dân xuất khẩu lao động từ Bắc TT đến Nga trong thế kỷ 20.

Lần thứ nhất là vào cuối chiến tranh thế giới thứ hai và sự ra đời của nhà nước Bắc TT để cung cấp lao động cho những nhà máy chế biến cá của Liên Xô. Trong những năm 50 đó, có khoảng 25 ngàn lao động và thân nhân của họ sinh sống trên đất Liên Xô.

Lần thứ hai là từ năm 1966, sau cuộc gặp gỡ bí mật giữa Leonid Brezhnev và Kim Il Sung ở Vladivostok. BTT thỏa thuận cung cấp cho LX từ 15 đến 20 ngàn công nhân khai thác gỗ mỗi năm.

Vào thời kỳ đó, chỉ những tù nhân hình sự, chính trị, những người đối kháng Kim Il Sung mới có cái vinh dự được xuất khẩu sang LX mà thôi. Vì nơi họ đến là vùng hoang vu lạnh giá không người ở, thậm chí không cần hàng rào kẻm gai vì chẳng ai có phương tiện để trốn thoát cả.

Ngày nay thì tình hình có khác. Người lao động BTT được tự do đi lại hơn. Tuy nhiên điều kiện làm việc của họ như thế nào thì vẫn còn là điều bí mật. Hàng năm có khoảng 10 ngàn người BTT được cấp visa lao động sang Nga.

Để tìm hiểu thêm về hiện trạng này, phóng viên báo Le Monde Diplomatique đã tìm gặp những mục sư người Nam Hàn làm việc ở Vladivostok, những người vốn có nhiều quan hệ với dân nhập cư BTT. Ngoài ra, để tiếp cận đối tượng, phóng viên còn phải tìm cách qua mặt công an địa phương vì chính quyền Nga đã xiết chặt kiểm soát kể từ năm 2004 sau khi có 2 lao động BTT xin tị nạn tại tòa lãnh sự Mỹ và Nam hàn.

Một công nhân BTT tiết lộ: "Giờ làm việc tùy theo từng trại. Tôi làm ở một trại khá xa, từ 16-17 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần. Những người làm ở trại chính thì chỉ làm 12-14 giờ. Những ngày nghỉ bao gồm Tết dương lịch, sinh nhật Kim Il Sung, sinh nhật Kim Jong Il và ngày thành lập đảng (đảng Lao Động TT), ngày xưa thì được nghỉ cở 7 ngày mỗi năm. Mùa Đông ở đây có thể lạnh đến -60 độ C. Tuy nhiên cái lạnh cũng chưa khổ bằng cái đói. Khẩu phần chỉ có 150g cơm và một chén soup cho mỗi bữa ăn."

Làm bất cứ gì để được đi

Để tuyển lao động sang Nga, nhà cầm quyền BTT đã tuyên truyền về nguồn lợi nhuận hấp dẫn từ trị giá ngoại tệ. Người lao động có thể ký hợp đồng 3 năm hoặc hơn nữa. Với tình trạng kinh tế trì trệ, BTT không bao giờ thiếu người muốn sang Nga lao động. Tuy nhiên, người XKLĐ phải là đảng viên, có giấy giới thiệu của cán bộ Đảng, phải là đàn ông có gia đình, và gia đình của họ phải còn ở BTT (như con tin), và cuối cùng là phải có sức khỏe tốt. Những người thiếu điều kiện sức khỏe thì có thể đút lót để được chọn.

Tai nạn lao động là mối đe dọa hàng ngày đối với công nhân khai thác gỗ. Thương tích do cây đè thường dẫn đến gãy tay, chân, có khi phải đoản chi. Mỗi trại có bác sĩ, nhưng thuốc thì không, nếu có thì cũng hết hạn sử dụng. Nếu có tiền thì sẽ được điều trị tốt hơn, và nếu phải nghỉ bệnh thì sẽ bị trừ lương.

Dân làm gỗ BTT không được phép vào bệnh viện Nga. Mỗi trại gỗ là một xã hội khép kín, không được giao tiếp với bên ngoài. Tuy nhiên, trại viên cũng có cách để mua bán trao đổi lén lúc với người bản xứ ở khu vực lân cận. Họ phải vượt qua vòng kiểm soát rất nghiêm ngặt của công an BTT, ai vi phạm sẽ bị phạt rất nặng. Nếu bị bắt vì tội bỏ trốn có thể phải bị biệt giam.

Chỉ tiêu xẻ gỗ được thỏa thuận giữa chủ trại, chính phủ Nga và chính phủ BTT. Phần gỗ tốt nhất ở gần gốc là của Nga, phần trung bình thuộc về BTT, phần còn lại xuất khẩu sang Trung Quốc hay Nhật Bản. Lương được lãnh bằng tem phiếu và chỉ có giá trị trao đổi ở BTT mà thôi, vì vậy người ta gữi cả về cho thân nhân trong nước. Tuy nhiên những người trở về BTT cho biết là loại tem phiếu này chỉ dùng được ở một số cửa hàng mà ai cũng biết là chẳng có hàng hóa gì để mua.

Cách những trại gỗ không xa là cảng Vladivostok nhìn ra biển Nhật Bản. Cảng này không mở cửa cho người nước ngoài trong hầu như suốt thời kỳ cộng sản ở Liên Xô. Ngày nay nó đã được hồi sinh với hàng loạt công trình xây dựng và trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách cũng như người lao động BTT. Năm 2004 đã có 262.775 du khách Trung Quốc và 13.294 lao động BTT đến đây.

Công nhân xây dựng BTT ở Vladivostok hầu hết đều là người từ thủ đô Bình Nhưỡng. Có lẽ công ty tuyển dụng muốn người lao động từ thành phố để dễ hội nhập vào cuộc sống ở đây, và như thế sẽ hạn chế tình trạng bỏ trốn.

[B]Lao động rẻ tiền nhưng cần cù[/B]

Báo chí địa phương mô tả Koretsky (dân lao động BTT) là "nhanh, rẻ và cần cù". Giới chủ nhân thì nói "họ chịu làm trước, lãnh tiền sau". Dân thường cũng có thể thuê họ làm việc lặt vặt như sơn nhà hay xây tường v.v... Ai cũng biết họ sống thế nào, thường thì ngủ ngay ở công trình. Cực khổ là thế, nhưng ít ra họ cũng kiếm được chút ít tiền khi xong việc.

Tuy nhiên, thực tế phủ phàng hơn nhiều. Công ty tuyển dụng của Kim Jong Il không hứa hẹn việc làm gì cả. Họ chỉ có trách nhiệm đưa công nhân sang Nga, sau đó thu hồi thông hành và chờ đến tháng thì thu tiền lệ phí bất kể người lao động có việc hay không. Người lao động phải tự tìm việc thông qua quảng cáo hay môi giới. Mỗi người phải nộp cho nhà nước BTT 250 euros mỗi tháng, trong khi lương chính thức của một giảng viên đại học ở Vladivostok chỉ có 125 euros mà thôi.

Với mức thuế khoán cao ngất ngưởng như thế, chỉ có một số ít là có thể để dành chút đỉnh nếu có khả năng và may mắn làm nhiều job cùng một lúc. Có người chỉ mong dành dụm được chút ít là trở về BTT ngay sau khi mãn hạn hợp đồng để tìm đường sang Mã Lai hay Kuwait lao động.

Cuộc sống trong những trại gỗ, nông trại hay trên công trường ở Nga không khác gì địa ngục trần gian khiến cho một số lao động chẳng còn cách nào khác hơn là bỏ trốn mặc cho những hậu quả mà thân nhân của họ còn ở lại BTT phải gánh chịu. Một công nhân kể lại là sau một năm rưỡi làm việc mà không có một đồng tiền mặt anh ta quyết định bỏ trốn cùng 3 người bạn. Vì nhà ga địa phương không được phép bán vé cho dân lao động BTT nên nhóm bỏ trốn phải lo lót cho tài xế của trại chở họ đến một thị trấn xa hơn để có thể mua vé xe lửa như người bình thường.

Một trong bốn người nói được chút ít tiếng Nga nên cả nhóm phải luôn sống chung để nương tựa vào nhau. Họ tìm đến vùng mỏ Uranium gần biên giới Nga-Trung và làm thợ xây dựng ở đó khoảng 1 năm. Năm 1999 họ về Vladivostok để tìm cách đào thoát sang Nam hàn. Từ đó đến nay vẫn chưa có cơ hội nên phải luôn lẫn tránh nhà cầm quyền vì sợ bị trục xuất về BTT.

Với nhân diện tiêu biểu của người Á Đông, họ rất dễ bị phát hiện vì cảnh sát Nga luôn ráo riết săng lùng dân nhập cư bất hợp pháp từ Trung Quốc. Người ta ước chừng có khoảng 2000 dân Trung Quốc nhập cư bất hợp pháp sống rải rác từ Vladivostok đến Moscow.

Theo quy chế tị nạn của Liên Hiệp Quốc thì người công nhân BTT cung cấp tin tức cho nhà báo nêu trên có đủ điều kiện để hưởng quyền tị nạn. Tuy nhiên chính phủ Nga không công nhận, chả thế bất kỳ ai bị bắt trên đường trốn thoát đều sẽ bị trục xuất về địa ngục cộng sản ở BTT.

(Theo Alain Devalpo - Le Monde Diplomatique - Tháng 4, 2006)

20-04-2006, 11:30 PM

Thursday, April 06, 2006

Kim Jong Il và những công trình thế kỷ

Saigon-Vietnam's Blog

Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên cùng với Cuba, Trung Quốc và Lào hiện vẫn còn là những người bạn thân thiết của CSVN. Tuy VN không hoàn toàn ủng hộ chính sách của họ nhưng không bao giờ cho phép công khai bình luận trên các phương tiện truyền thông. Người ta được quyền phê phán và bình luận mọi thứ về các quốc gia dân chủ, nhưng tuyệt đối không bao giờ đưa tin bất lợi cho những quốc gia CS.

Báo Tuổi Trẻ gần đây đã bạo gan nhắc đến chuyện chọn người kế vị của Kim Jong Il mà không dám bình luận gì cả, có lẽ sợ bị đánh giá là "mất quan điểm giai cấp". Ở những quốc gia CS, người dân không bao giờ được phép biết sự thật về các lãnh tụ của họ và của những nước CS khác. Tuy nhiên, chỉ cần vượt qua được cái tường lửa thông tin CS thì người ta sẽ có vô số tư liệu công khai về tất cả mọi thứ.

Lãnh tụ vĩ đại Kim Jong Il (Great Leader Kim) là cách gọi bắt buộc cho bất kỳ ai ở Bắc Triều Tiên khi muốn nhắc đến cái tên Kim Jong Il, không có ngoại lệ. Vị Pharaon của bán đảo Triều Tiên này có dáng vấp khá khiêm tốn so với đồng bào của mình, nhưng là con người luôn có tư duy tầm cỡ thế kỷ, ngông cuồng và bốc đồng. Có thể nói không ngoa khi đánh giá Kim là sự kết hợp giữa hai con người Stalin và Mao Trạch Đông.

Nếu như hầu hết các nhà lãnh tụ CS trên thế giới đã nhận ra sai lầm của đảng mình trong quá khứ về chính sách đối nội cũng như đối ngoại thì Kim và Castro vẫn còn là hai con khủng long của phong trào CS. Tuy nhiên, về cái tính chơi ngông thì Kim vẫn giữ vị trí vô địch.

Có lẽ không ai còn lạ gì với tuyên bố gần đây của Kim về chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Một quốc gia không có thu nhập, không có lương thực thì lấy đâu ra tiền mà sản xuất vũ khí, chớ chưa nói đến vũ khí hạt nhân? CIA gần như chắc chắn rằng Kim đã sống nhờ vào công nghiệp in ngoại tệ giả và làm hàng giả như thuốc lá, rượu mạnh v.v...

Đài Discovery có làm một chương trình phóng sự về tội ác của Kim Jong Il và những chính sách đàn áp mà Kim đã và vẫn còn đang thực hiện lên người dân Bắc Triều Tiên. Ở đó, những trại giam đặc biệt kiểu Gulắc vẫn còn được duy trì để giam giữ những người bị kết tội "phản động", làm tay sai cho đế quốc, hoặc chỉ đơn giản vì họ là hàng xóm hay người thân của những người bị tội mà thôi ...

Không khí sống của người dân Bắc Triều Tiên hiện nay vẫn còn giống như thời kỳ đấu tố ở miền Bắc VN những năm sau 1954. Kim áp dụng một chính sách cực kỳ tàn bạo và nghiêm khắc để loại trừ một cách tuyệt đối mọi mầm mống chống đối từ phía dân chúng. Nguyên tắc nổi tiếng của Kim là hễ một gia đình có người bị phát hiện bất kính với lãnh tụ, hay có những phát biểu khác với chủ trương của Đảng thì cả 4 gia đình chung quanh đều phải chịu chung hình phạt. Vì vậy, để tránh bị hoạ lây, người ta không có cách nào khác là phải tự giác tố cáo hàng xóm.

Về mặt bưng bít thông tin thì Kim không hề có đối thủ. Để bảo đảm tín hiệu truyền thanh và truyền hình của các thế lực phản động không thể đến được tai và mắt của dân Bắc Triều Tiên, ngoài việc phá sóng, Kim đã ra lệnh cho tất cả mọi người phải mang radio và tv đi đăng ký. Cơ quan văn hoá chỉ cấp giấy phép sử dụng cho những thiết bị điện tử này sau khi đã thay đối linh kiện và cấu trúc để bảo đảm là chúng chỉ có thể bắt được tín hiệu của những đài nhà nước mà thôi. Cách làm đơn giản nhất là hàn chết bộ phận rà và chọn đài.

Cuba tuy rất dè dặt với người nước ngoài nhưng vẫn cho xây dựng một thế giới riêng cho du khách để thu ngoại tệ, còn CHDCNDTT thì không, đây là một quốc gia duy nhất trên thế giới không cho phép người nước ngoài được tự do vào thủ đô cũng như nhiều vùng lãnh thổ khác. Còn phóng viên thì lại càng khó có được visa nhập cảnh.

Cách đây ít hôm, nhân cuộc hội ngộ của những người thân từ hai miền Nam, Bắc do hai bên tổ chức hàng năm, một phóng viên truyền hình Nam Hàn đang phỏng vấn và bình luận về trường hợp một người dân Bắc Triều Tiên. Nhân vật này được anh ta giới thiệu với khán giả là đã bị chia cắt với gia đình vì bị bắt cóc vào những năm 60 của thế kỷ trước chớ không phải do chiến tranh. Thế là cầu truyền hình qua vệ tinh lập tức bị cắt, làm ảnh hưởng đến tất cả các hảng tin khác. Anh chàng phóng viên này sau đó được yêu cầu lập tức rời khỏi lãnh thổ Bắc Triều Tiên.

Ngành du lịch ở Bắc Triều Tiên gần như không tồn tại, công nghiệp thì cũng không, ngoại trừ ngành sản xuất vũ khí hạt nhân, còn nông nghiệp, vốn là cái bầu sữa duy nhất cho người dân, thì suốt chục năm qua cũng ở trong tình trạng dở sống dở chết vì thiếu phân bón cũng như nông cụ và nhiên liệu. Thị dân, bất kể thành phần, hàng năm vẫn còn phải thay phiên nhau ra quân về nông thôn làm ruộng cùng nông dân theo quy định của nhà nước. Giống hệt như chế độ nghĩa vụ lao động thời trước ở VN.

Ngoài việc có chung nhiều cá tính tương tự như những lãn tụ CS khác, Kim Jong Il còn là người có tính nghệ sĩ và ảo tưởng rất lớn. Ông luôn ôm ấp những ước mơ vĩ đại xứng đáng với danh hiệu "Lãnh Tụ Vĩ Đại" mà nhân dân Bắc Triều Tiên bị bắt buộc phải dùng để gọi ông, cũng như đã từng gọi cha ông và có thể là cả con trai và cháu trai của ông sau này.

Không như Hồ Chí Minh hay Fildel Castro vốn khiêm tốn giản dị trong lối sống cũng như rất thực tế trong những hoạch định có tính chiến lược, Kim Jong Il luôn có những chủ trương táo bạo ngông cuồng, thậm chí vượt quá khả năng của mình và bất chấp hậu quả ra sao.

Bình Nhưỡng là sự tương phản hoàn toàn với La Habana. Những ai có cái may mắn được đến Bình Những sẽ không khỏi ngạc nhiên với khung cảnh đô thị hiện đại, tươm tất của một quốc gia mà phần lớn người dân đều phải sống nhờ viện trợ lương thực quốc tế. Toàn thành phố chỉ có vài ngàn xe ô tô quốc doanh. Phương tiện di chuyển công cộng chủ yếu là xe bus, xe điện ngầm và ... đi bộ; xe đạp từng bị cấm trong một thời gian dài ở Bình Nhưỡng. Chính phủ Bắc Triều Tiên đặc biệt chú ý đến việc bảo dưỡng những công trình kiến trúc ở thủ đô, không như những thủ đô của những quốc gia cộng sản cũ.

Tuy nhiên Bình Nhưỡng là nơi duy nhất trên toàn lãnh thổ Bắc Triều Tiên có được sự quan tâm đặc biệt đó của nhà nước. Ảnh chụp từ vệ tinh ngang qua bán đảo Triều Tiên vào ban đêm cho thấy sự tương phản giữa 2 miền Nam Bắc như ngày và đêm. Toàn bộ miền Bắc chìm trong bóng tối, ngoại trừ Bình Nhưỡng có chút ánh sáng đèn điện, trong khi toàn miền Nam thì sáng rực suốt đêm.

Du khách được cấp visa vào Bắc Triều Tiên chỉ chưa đầy 200,000 người mỗi năm, phần lớn đều không được đến Bình Nhưỡng và không bao giờ được tự do đi lại. Số người được phép đến BN chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, cở vài ngàn mỗi năm.

Trong khi hiện trạng tại VN và TQ cho thấy các thành phố lớn đều không đủ phòng nghỉ cao cấp cho khách du lịch, thì ở Bình Nhưỡng, một khách sạn 5 sao với sức chứa vài trăm phòng thường chỉ phục vụ vài chục khách mỗi ngày.

Kim Jong Il và cha của ông, cũng là lãnh tụ vĩ đại, Kim Il Sung, đều là những người thích những công trình xây dựng vĩ đại tầm cỡ thế kỷ. Không chỉ để tôn vinh cái vĩ đại của mình mà còn để cạnh tranh với kẻ thù của họ là "bọn bán nước Nam Hàn", cho dù có phải sử dụng đến hơi thở cuối cùng của người dân Bắc Triều Tiên.

Khi Nam Hàn chuẫn bị xây dựng hệ thống tàu điện ngầm ở Seoul thì cũng là lúc Kim Jong Il được cha giao cho trọng trách thực hiện công trình đường tàu điện ngầm Bình Nhưỡng.





Công trình này được tăng tốc để hoàn thành tuyến tàu đầu tiên trước thời hạn (tháng 9 năm 1973, gần một năm trước khi Seoul khánh thành tuyến tàu đầu tiên của họ).

Thành phố Sài Gòn với mức sống và tiềm năng kinh tế cao gấp nhiều lần Bình Nhưỡng nhưng hiện vẫn chưa có tàu điện ngầm, còn Bình Nhưỡng đã có hệ thống tàu điện ngầm cách đây hơn 30 năm! Điểm đáng chú ý hơn cả là hệ thống giao thông tốn kém này chưa bao giờ chạy hết công suất vì không có nhiều người sử dụng. Những ảnh chụp lén của người ngoại quốc cho thấy hành khách metro tuy không nhiều nhưng thường ăn mặc khá lịch sự kiểu nhân viên ngoại giao hay thương gia.

Công trình này được sự hỗ trợ kỷ thuật của Liên Xô và Trung Quốc. Đầu máy thì nhập từ Đông Đức. Kinh phí của hệ thống tàu điện ngầm Bình Nhưỡng chưa bao giờ được công bố. Có người còn tin rằng hệ thống hoành tráng này chỉ là bề mặt thôi, bên dưới nó còn có một hệ thống đường xe điện bí mật, giống như ở Mạc Tư Khoa, dẫn đến những khu công nghiệp hạt nhân và hầm trú ẩn khổng lồ dưới lòng đất.

Công trình thứ hai là tòa nhà cao 105 tầng được thiết kế để vượt qua kỷ lục của khách sạn Stamford Hotel ở Singapore trước đó một năm do người Nam Hàn thực hiện. Kim Jong Il dự định xây toà nhà này làm khách sạn 5 sao để đón tiếp đại hội thanh niên và sinh viên thế giới vào năm 1989. Theo báo giới Nhật Bản, kinh phí cho dự án này có thể lên đến hơn 750 triệu USD, tức 2% GDP. Khi hoàn thành, khách sạn 5 sao Ryugyong cao 105 tầng (330m - khách sạn cao nhất thế giới thời bấy giờ) dự định sẽ có sức chứa 3000 phòng với 7 nhà hàng xoay vòng, và 360,000 m² diện tích sử dụng. Kim Jong Il đã cho in hình toà nhà này lên bản đồ thủ đô và tem trước khi nó được khởi công, với dự định khách sạn Ryugyong sẽ là niềm tự hào dân tộc của Bắc Triều Tiên dưới sự lãnh đạo tài tình của Kim chủ tịch vĩ đại.

Tuy nhiên ngày nay nếu đến Bình Nhưỡng, bạn sẽ không còn thấy tên của toà nhà này trên bản đồ thủ đô nữa. Có hỏi thì cũng chẳng ai nói, mọi người cứ bảo là không biết. Thế nhưng chỉ cần bước ra ngoài đường, nhìn lướt qua bầu trời Bình Nhưỡng một vòng 360 độ là bạn sẽ bắt gặp ngay chiếc Kim Tự Tháp đứng sững giữa trời và vượt qua hẵn tất cả các công trình kiến trúc khác về chiều cao, trên nóc tháp vẫn còn chiếc cần cẫu nằm vắt ngang.

Khởi công năm 1987 và đến năm 1992 thì đề án này được chính thức tạm dừng vô thời hạn. Công trình này có lẽ phải được Guiness trao tặng kỷ lục về công trình kiến trúc bằng bê tông không người ở cao nhất thế giới, và ngôi nhà không cửa sổ cao nhất thế giới.

Lý do cho việc bỏ dở công trình thì không ai biết. Có người cho rằng vì kết cấu bê tông có dấu hiệu không an toàn cho sử dụng. Nhưng có người cũng cho rằng Kim bỏ dở đề án khách sạn Ryugyong đơn giản là vì thiếu tiền và thiếu điện. Hiện nay chiếc cần cẫu nằm trên nóc tháp dường như để nhắc nhở mọi người về cái công trình không bao giờ kết thúc này.

Để bù lại cho thất bại đó, Kim đã cho xây một khách sạn 5 sao khác nhỏ hơn nhiều bên bờ sông Teadong.

Tiến thoái lưỡng nan, biết làm gì với cái toà nhà vô dụng này bây giờ? Giật sập nó đi một cách an toàn thì tốn kém vô cùng, hơn nữa để có kỹ thuật implosion, chả lẽ nhờ các nước tư bản vào làm chuyện đó dùm hay sao? Còn gì là thể diện của một cường quốc hạt nhân? Thôi thì cứ để nó đó và xoá tên trên bản đồ Bình Nhưỡng, đồng thời cấm không cho ai nhắc đến cái tên Ryugyong nữa, xem ra là giải pháp thực tế nhất vậy.
6-April-2006